Chủ nhật, 22-11-2020 , 11:19:00 AM

Ngày 21/11/2020 Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã có kết luận điều tra vụ án "Chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước". 

Theo đó, ông Nguyễn Đức Chung, nguyên Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội là một trong các bị can của vụ án. Sau khi có kết luận điều tra, cơ quan điều tra sẽ chuyển hồ sơ vụ án sang Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để đề nghị truy tố và xét xử.
Tội phạm mà ông Nguyễn Đức Chung và đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội là loại tội phạm “rất nghiêm trọng” theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015. Vậy, trong trường hợp bị Viện kiểm sát truy tố và được Tòa án đưa ra xét xử ông Nguyễn Đức Chung sẽ phải đối mặt với những hình phạt ra sao?
Dưới đây luật sư của công ty luật Á Đông sẽ phân tích về tình huống phạm lý này để trả lời cho câu hỏi trên.
Về tội danh, ông Nguyễn Đức Chung và đồng phạm bị điều tra về tội “Chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước" được quy định tại Điều 337 Bộ luật hình sự năm 2015. Đây là một tội danh ghép gồm cấu thành của rất nhiều hành vi, trong đó có: làm lộ, chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước. Trong trường hợp của ông Nguyễn Đức Chung là hành vi chiếm đoạt tài liệu bí mật của nhà nước.
 Xét về mức độ nguy hiểm cho xã hội,, tội danh này thuộc mức độ “rất nghiêm trọng” trong quy định của Bộ luật hình sự với mức hình phạt cao nhất là 15 năm tù.

Điều luật này quy định như sau:

Điều 337. Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước
1. Người nào cố ý làm lộ hoặc mua bán bí mật nhà nước, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 110 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Bí mật nhà nước thuộc độ tối mật;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Gây tổn hại về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa.
3. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Bí mật nhà nước thuộc độ tuyệt mật;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Gây tổn hại về chế độ chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
 
Theo quy định trên thì nếu bj truy tố và xét xử theo khoản 1 của điều luật, ông Nguyễn Đức Chung sẽ phải đối mặt với mức án cao nhất là 7 năm tù. Còn nếu bj truy tố và xét xử theo khoản 2 của điều luật, ông Nguyễn Đức Chung sẽ phải đối mặt với mức án cao nhất là 10 năm tù
Tuy nhiên, với những thông tin về vụ án mà các cơ quan truyển thông đưa tin và Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an cung cấp thì khả năng ông Nguyễn Đức Chung sẽ bị truy tố và xét xử theo khoản 3 của điều luật bởi tình tiết định khung là phạm tội “có tổ chức” vì có 4 nghi bị can bị điều tra trong vụ án và có cấu kết trong khi phạm tội. Nếu bị truy tố và xét xử theo khoản này, ông Nguyễn Đức Chung và đồng phạm sẽ đối mặt với mức án cao nhât là 15 năm tù.
Để ấn định một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị can, theo quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự, trong quá trình xét xử tòa án sẽ căn cứ vào các yếu tố vai trò trong vụ án, yếu tố nhân thân và mức độ thành khẩn của các bị cáo để lượng hình căn cứ trên các nguyên tắc lượng hình được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với cá nhân của ông Nguyễn Đức Chung như chúng ta đã biết, ông Chung đã được Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Ngoài ra, ông Chung cũng đạt được nhiều thành tích khác trong quá trình công tác để có vị trí như trước khi phạm tội (là Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND…). Đây sẽ là các tình tiết giảm nhẹ để Tòa án áp dụng khi lượng hình và áp dụng hình phạt với ông Chung. Trong trường hợp được áp dụng ở mức tối đa ông Chung có thể chỉ bị áp dụng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 337 của Bộ luật hình sự là 10 năm tù.
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự thìTòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này”.

Điều 51 của Bộ luật hình sự quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:
1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
m) Phạm tội do lạc hậu;
n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
r) Người phạm tội tự thú;
s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;
t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;
u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 của điều này thì “Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án”.


Như vậy, trong vụ án này nếu các yếu tố nhân thân, thái độ thành khẩn, mức độ tham gia của ông Chung đáp ứng được điều kiện “có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ” thì ông Chung có khả năng được lượng hình giảm tới mức hình phạt quy định ở khoản 2 thấp nhất là 5 năm tù.

______________________

Hãy tăng thu nhập của bạn cùng chúng tôi: Chương trình chiết khấu 20% - 25% trên tổng giá trị mỗi hợp đồng mà bạn giới thiệu cho Công ty Luật Á Đông .....

______________________
"Công ty Luật Á Đông: Dịch vụ thành lập công ty, dịch vụ kế toán, business registration certificate, thủ tục thành lập doanh nghiệp liên doanh, thủ tục thành lập công ty 100% vốn nước ngoài, thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh,  thủ tục chuyển nhượng đất đai, sở hữu trí tuệ, M&A, thủ tục giải quyết tranh chấp, hợp đồng, các thủ tục hành chínhconsular legalization in Vietnam,  và các dịch vụ pháp lý khác...hotline: 0904.253.822 - 024.668.14.111"

Giới thiệu

CÔNG TY LUẬT Á ĐÔNG (ADONG LAWFIRM) xin kính chào Quý khách hàng!

CÔNG TY LUẬT Á ĐÔNG (ADONG LAWFIRM) xin kính chào Quý khách hàng!

Được chuyển đổi từ Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư Á Đông (thành lập ngày 23 tháng 7 năm 2004), trải qua 10 năm hoạt động, các Luật sư chủ chốt của Công ty Luật Á Đông đã có một bề dày kinh nghiệm tư vấn trong lĩnh vực pháp luật đầu tư và pháp luật doanh nghiệp.

Bên cạnh những kinh nghiệm chuyên môn, các luật sư và chuyên viên pháp lý của Công ty Luật Á Đông luôn thấm nhuần cách nghĩ " Luật sư luôn là người bạn đồng hành mang lại sự yên tâm và an toàn cho doanh nghiệp trong các hoạt động kinh doanh ". Do vậy, trong quá trình cung cấp dịch vụ của mình, Công ty Luật Á Đông luôn được khách hàng đánh giá là một đơn vị tư vấn có đội ngũ nhân viên tận tâm...

Hotline

Hotline:

024.668.14111 -

Thống kê